Thứ Năm, 9 tháng 4, 2026

Trung Quốc - Kế hoạch 5 năm lần thứ 15

Tóm tắt nhanh Kế hoạch 5 năm lần thứ 14

Các kế hoạch 5 năm từ trước đến nay đóng vai trò định hướng cho các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội trong trung hạn của Trung Quốc, giúp phân bổ tài nguyên và đặt mục tiêu hợp lý. Các nhà hoạch định chính sách đã đạt được phần lớn mục tiêu của các kế hoạch 5 năm trong nhiều thập kỷ qua, và lần thứ 14 vừa rồi cũng vậy:

  • Chỉ tiêu đô thị hóa, đổi mới sáng tạo, an ninh đều vượt kế hoạch
  • Chỉ tiêu dân sinh, mạng lưới an sinh xã hội về cơ bản đạt yêu cầu
  • Chỉ tiêu giảm phát thải carbon CHƯA ĐẠT KÌ VỌNG

Cụ thể, theo ước tính dựa trên các báo cáo thường niên từ Cục Thống kê Quốc gia (NBS), cường độ năng lượng của Trung Quốc (mức tiêu thụ năng lượng trên một đơn vị GDP) đã giảm tích lũy 11.7% trong giai đoạn 2021-2025, và lượng phát thải carbon trên một đơn vị GDP giảm tích lũy 12.4%, đều thấp hơn các mục tiêu tương ứng là 13.5% và 18%. Tuy nhiên, NBS dường như đã điều chỉnh lại định nghĩa về phát thải carbon (một số học giả từng cảnh báo rằng lượng khí thải từ sản xuất công nghiệp trước đây chưa được phản ánh đầy đủ trong thống kê chính thức, nhưng vấn đề này gần đây đã được giải quyết), và báo cáo mức giảm phát thải carbon tích lũy đạt 17.7% trong giai đoạn 2021-2025.

Kế hoạch 5 năm lần thứ 15

Dựa trên danh sách các mục tiêu chính của kế hoạch lần này, ta có thể thấy tính định hướng chính sách hướng về việc thúc đẩy phát triển công nghệ và tăng cường an ninh cho các chuỗi cung ứng then chốt như năng lượng hay lương thực, tập trung gia tăng dân sinh và tiêu dùng, cũng như tiếp cận thực tế cho quá trình chuyển đổi xanh. Các chỉ số trong danh mục phát triển kinh tế, đổi mới sáng tạo và an ninh phần lớn giữ nguyên, các thay đổi tập trung nhiều ở mảng dân sinh và chuyển đổi xanh.

  • Bảo hiểm hưu tri + Chăm sóc người cao tuổi: Bỏ chỉ tiêu về "tỷ lệ tham gia bảo hiểm hưu trí cơ bản" khi số hiện tại đã đạt tới mức >95% tính đến năm 2025, gần như bao phủ toàn diện. Thay vào đó, đặt chỉ tiêu mới về "tỷ lệ có giường điều dưỡng cho các cơ sở dưỡng lão" lên tới 73% vào năm 2030.
  • Chăm sóc trẻ em: Thay thế chỉ tiêu "Số lượng nhà trẻ cho trẻ mẫu giáo dưới 3 tuổi trên mỗi một nghìn dân" bằng "Tỷ lệ nhập học tại các cơ sở chăm sóc trẻ em" tăng thêm 6 điểm phần trăm trong giai đoạn 2026-2030. Với việc số lượng trẻ em sinh ra mỗi năm đang thấp hơn đáng kể so với 5 năm trước, Chính phủ Trung Quốc đã chuyển dịch từ việc đặt mục tiêu dựa trên số lượng nhà trẻ, sang mục tiêu dựa trên tỷ lệ nhập học thực tế.
  • Trong mục Chuyển đổi xanh, các policymakers của Trung Quốc đã chuyển dịch sự ưu tiên từ việc "giảm cường độ năng lượng" sang "giảm phát thải carbon", đồng thời tăng cường tập trung vào quá trình chuyển đổi sang năng lượng sạch. Cụ thể, chỉ tiêu "giảm tiêu thụ năng lượng trên mỗi đơn vị GDP" đã được đưa ra khỏi danh sách mục tiêu chính trong kế hoạch lần này. Mặc dù các policymakers vẫn đặt mục tiêu giảm 10% trong giai đoạn 2026-2030. Tuy vậy, chỉ tiêu này giờ ít mang tính ràng buộc hơn so với kế hoạch trước đó nhằm thích ứng tốt hơn với sự gia tăng dự kiến trong nhu cầu năng lượng liên quan tới AI. Thêm vào đó, có một chỉ tiêu mới về "tỷ trọng năng lượng phi hóa thạch trong tổng tiêu thụ năng lượng" được đưa vào danh sách mục tiêu chính. Trước đây, mục tiêu này chỉ được nhắc tới trong kế hoạch lần thứ 14, nay được đặt mục tiêu sẽ nâng tỷ lệ lên tới 25% vào năm 2030 nhằm nhất quán với "Kế hoạch hành động hướng tới đạt đỉnh phát thải carbon vào năm 2030" của Quốc vụ viện Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.

Trong số các mục tiêu quan trọng khác, các nhà hoạch định chính sách không đặt ra mục tiêu tăng trưởng GDP thực tế cụ thể cho giai đoạn 2026-2030, tương tự như tiền lệ cách đây 5 năm. Họ giữ nguyên mục tiêu tăng trưởng chi tiêu cho nghiên cứu và phát triển ở mức "trên 7%/năm", đồng thời tiếp tục hướng tới tăng trưởng năng suất lao động cao hơn tăng trưởng GDP và tăng trưởng thu nhập khả dụng về cơ bản phù hợp với tăng trưởng GDP.

Ngoài ra, họ đặt mục tiêu nâng tỷ lệ đô thị hóa thêm 3 điểm phần trăm lên mức 71% vào năm 2030, tăng tỷ trọng đóng góp của các ngành cốt lõi trong nền kinh tế số lên 12.5% GDP vào năm 2030 (so với 10.5% năm 2024 và 7.8% năm 2020) và thúc đẩy năng lực sản xuất năng lượng và lương thực hàng năm lần lượt tăng 13.1% và 4.3% vào năm 2030 so với mức của năm 2025.

Các tín hiệu về ưu tiên chính sách


Việc phân tích văn bản cho thấy tần suất từ khóa trong các báo cáo Kế hoạch 5 năm qua nhiều thập kỷ cho thấy các ưu tiên chính sách đã gia tăng đối với tiêu dùng, an ninh và tính ổn định, công nghệ và chuyển đổi xanh, trong khi ít đề cập tới việc cải cách hơn trước. So với báo cáo lần thứ 14, thứ tự của "hệ thống công nghiệp hiện tại", "số hóa", "open up"  (tạm dịch là "mở cửa") và "dân sinh" được xếp hạng cao hơn, cho thấy tầm quan trọng lớn hơn.

Các so sánh cho thấy rằng 109 dự án trọng điểm của kế hoạch lần này so với 102 dự án trọng điểm của kế hoạch lần thứ 14, các dự án đầu tư mới được thêm vào chủ yếu tập trung ở AI và công nghệ cao, hạ tầng mới, năng lượng sạch và các dịch vụ liên quan đến việc làm, ít tập trung vào hạ tầng truyền thống như trước.

Đẩy mạnh chi tiêu vào Nghiên cứu & phát triển, nỗ lực phát triển công nghệ cao


Trung Quốc đã vượt mục tiêu của Kế hoạch 5 năm lần thứ 14 về tăng trưởng chi tiêu cho R&D (7%) khi đạt mức tăng trưởng 10%/năm trong giai đoạn 2021-2025. Trong lần thứ 15, mục tiêu 7% tiếp tục được duy trì, ngụ ý rằng chi tiêu cho R&D của Trung Quốc sẽ đạt mức 3% GDP vào năm 2030 (so với mức 2.8% năm 2025) và khoảng cách với các nền kinh tế phát triển lớn sẽ tiếp tục được thu hẹp. Theo quan điểm của chúng tôi, với những thúc đẩy chính sách gia tăng cho đổi mới và phát triển công nghệ cao, Trung Quốc có khả năng sẽ duy trì được lợi thế cạnh tranh trong lĩnh vực sản xuất, tiếp tục thăng tiến trên thang giá trị gia tăng toàn cầu (chuyển dịch từ sản xuất cấp thấp sang xuất khẩu công nghệ cao và giá trị cao), đồng thời giành thêm thị phần trên thị trường thế giới.


AI, chất bán dẫn và các lớp công nghệ rộng hơn là các lĩnh vực trọng tâm được nhấn mạnh trong kế hoạch lần thứ 15 này. Người đứng đầu NDRC Zheng Shanjie đã nhấn mạnh về "6 ngành công nghiệp mới nổi" và "6 ngành công nghiệp tương lai" với mức độ ưu tiên tăng dần bao gồm:
  • Nhóm ngành mới nổi: mạch tích hợp (IC), hàng không và vũ trụ, dược phẩm sinh học, kinh tế tầm thấp, các loại hình lưu trữ năng lượng mới và robot thông minh.
  • Nhóm ngành tương lai: công nghệ lượng tử, sản xuất sinh học, năng lượng hydro xanh và năng lượng hạt nhân, giao diện não-máy tính, trí tuệ hiện thân và mạng 6G.

Theo đó, ông Zheng dự kiến giá trị gia tăng của "6 ngành mới nổi" sẽ tăng hơn gấp đôi vào năm 2030 so với mức ~6 nghìn tỷ RMB của năm 2025. Đồng thời, quy mô kinh tế của các ngành liên quan đến AI dự kiến sẽ vượt qua 10 nghìn tỷ RMB vào cuối năm 2030, mặc dù vẫn chưa rõ các ngành này được định nghĩa cụ thể ra sao.

Kinh tế mới tiếp tục vượt qua mô hình truyền thống

Áp dụng phương pháp luận tương đương và chỉ tập trung vào một nhóm chỉ số riêng biệt, tốc độ tăng trưởng hàng năm của hầu hết các chỉ số thuộc nền kinh tế mới đã liên tục vượt xa các chỉ số gắn liền với nền kinh tế truyền thống trong suốt giai đoạn 2021-2025. Các lĩnh vực tiêu biểu của nền kinh tế mới bao gồm: doanh số xe điện (EV), sản lượng robot công nghiệp và mạch tích hợp (IC), doanh thu dịch vụ chuyển phát nhanh và các chuyến bay chở khách. Trong khi đó, nền kinh tế truyền thống đặc trưng bởi sản xuất thép và xi măng, nhiệt điện và vận tải hàng hóa đường sắt. Xu hướng này nhất quán với các mô hình đã quan sát được trong giai đoạn 2016-2020 (dù nền tảng thấp có thể làm tăng khống tốc độ tăng trưởng của các lĩnh vực kinh tế mới trong những năm đầu).

An ninh chuỗi cung ứng

Các cuộc xung đột thương mại Mỹ - Trung (giai đoạn 2018-2019 và từ năm 2025), các hạn chế ngày càng tăng về công nghệ và sự gia tăng bất ổn địa chính trị (như xung đột Nga-Ukraine từ năm 2022 và xung đột tại Trung Đông gần đây) đã thôi thúc các nhà hoạch định chính sách tập trung mạnh mẽ vào mục tiêu "tự cường". Chiến lược này nhằm bảo vệ nền kinh tế trước các áp lực bên ngoài, dù là vô tình hay cố ý, đặc biệt là đối với các chuỗi cung ứng thiết yếu như năng lượng và lương thực.


Về năng lượng, Trung Quốc đã và đang đầu tư mạnh mẽ vào năng lượng xanh (đặc biệt là điện mặt trời). Đồng thời, tận dụng nguồn tài nguyên than đá dồi dào của mình nhằm đảm bảo nguồn cung năng lượng nội địa. Từ đó giảm sự phụ thuộc vào nhập khẩu năng lượng và thúc đẩy quá trình chuyển đổi xanh. Trong 10 năm qua, tỷ trọng nhiệt điện trong tổng sản lượng điện đã giảm xuống còn 65% vào năm 2025 từ mức 75% năm 2015, mặc dù con số tuyệt đối về sản lượng nhiệt điện vẫn tiếp tục tăng trưởng. Để so sánh, tỷ trọng sản lượng điện gió, điện mặt trời và điện hạt nhân đã tăng lên lần lượt là 11%, 6% và 5% vào năm 2025, so với các mức chỉ 3%, 1% và 3% của năm 2015.

Cuộc đua công nghệ Mỹ-Trung đòi hỏi nguồn cung năng lượng bền vững về dài hạn nhằm vận hành các trung tâm dữ liệu cho AI. Mục tiêu "năng lực sản xuất năng lượng toàn diện" trong kế hoạch lần thứ 15 này của Trung Quốc yêu cầu mức tăng trưởng 2.5%/năm trong giai đoạn 2026-2030. Theo đó, State Grid (Tập đoàn Lưới điện Nhà nước Trung Quốc - một doanh nghiệp nhà nước trung ương) vận hành mạng lưới điện bao phủ hơn 80% cả nước và cung cấp điện cho hơn 1 tỷ người - gần đây đã công bố kế hoạch mở rộng đầu tư thêm 40% trong giai đoạn 5 năm tới, tương ứng mức tăng trưởng 6%/năm. Việc chuyển dịch trọng tâm chính sách từ kiểm soát cường độ năng lượng sang kiểm soát phát thải carbon phản ánh kế hoạch của Trung Quốc nhằm thích ứng với sự phát triển của các ngành thâm dụng năng lượng như AI, đồng thời vẫn thúc đẩy các mảng công nghệ xanh.

Về lương thực, sản lượng ngũ cốc của Trung Quốc đã liên tục tăng trưởng trong hai thập kỷ qua. Mục tiêu về 'năng lực sản xuất ngũ cốc toàn diện' trong Kế hoạch lần thứ 15 đặt ra mức tăng trưởng 0.8%/năm trong giai đoạn 2026-2030. Mặc dù tốc độ này có vẻ khiêm tốn so với mức tăng trưởng thực tế 1.3% hàng năm đạt được trong giai đoạn 2021-2025, nhưng đây vẫn là mục tiêu đầy tham vọng hơn so với mục tiêu đã đề ra trong Kế hoạch lần thứ 14.

Thúc đẩy tiêu dùng & Cải thiện dân sinh

Tỷ trọng tiêu dùng của hộ gia đình trong GDP Trung Quốc đã sụt giảm đáng kể trong giai đoạn đầu thế kỷ XXI, khoảng 10 điểm phần trăm xuống còn 35%. Mặc dù tỷ trọng này đã tăng khiêm tốn lên khoảng 40% trong các năm gần đây, các hộ gia đình Trung Quốc vẫn duy trì tỷ lệ tiết kiệm cao và tỷ lệ tiêu dùng thấp. Trong bối cảnh đó, kế hoạch lần thứ 15 này liệt kê rõ ràng việc "tăng tỷ lệ tiêu dùng hộ gia đình" là một ưu tiên chính sách trong các nội dung chính. Đồng thời, kế hoạch bao gồm một số chiến lược triển khai nhất quán với "Kế hoạch hành động đặc biệt thúc đẩy tiêu dùng" của Quốc vụ viện vào tháng 03/2025.

  • Tăng thu nhập hộ gia đình: thông qua các hình thức tăng trưởng tiền lương, lợi nhuận từ giá trị tài sản và các khoản thanh toán chuyển nhượng. Các nỗ lực chính sách bao gồm ổn định và mở rộng năng lực việc làm, tạo việc làm mới trong nền kinh tế số, kinh tế xanh và kinh tế bạc; nâng mức lương tối thiểu; cải thiện môi trường kinh doanh SMEs và củng cố mạng lưới an sinh xã hội cho lao động tự do. Cách tiếp cận này phù hợp với nghiên cứu cho thấy dòng thu nhập là động lực chính cho tiêu dùng hộ gia đình Trung Quốc thay vì hiệu ứng tài sản (wealth effects), dù việc thực thi sẽ vô cùng nan giải.
  • Mở rộng tiêu dùng dịch vụ: tăng mức tập trung vào các lĩnh vực như chăm sóc người già, chăm sóc trẻ em, văn hóa và du lịch. Do ngành dịch vụ thâm dụng lao động, các sáng kiến này có thể tạo chu kỳ tích cực: tạo việc làm - tăng thu nhập - thúc đẩy tiêu dùng. Hiện tiêu dùng dịch vụ chỉ chiếm khoảng 46% tổng tiêu dùng của Trung Quốc, trong khi ở các nước phát triển là 60%. Dù có nhiều chính sách gần đây nhấn mạnh vào mảng dịch vụ, các biện pháp thực tế hiện vẫn đang ở quy mô nhỏ, ví dụ như trợ cấp về lãi suất cho doanh nghiệp dịch vụ.
  • Giải quyết "nút thắt" tiết kiệm và an sinh xã hội: đây là một trở ngại lớn cho tiêu dùng, mà nguyên nhân cốt lõi theo các nghiên cứu là do mạng lưới an sinh xã hội chưa đầy đủ, khiến người dân phải tiết kiệm phòng ngừa rủi ro. Dù kinh tế có phát triển nhanh, Chính phủ Trung Quốc vẫn đang chi tương đối thấp cho bảo hiểm xã hội so với các nền kinh tế lớn. Những năm gần đây, các nhà hoạch định chính sách nhấn mạnh tầm quan trọng của việc "đầu tư vào con người" (thay vì "đầu tư vào hàng hóa") và cam kết tăng hỗ trợ tài chính cho các lĩnh vực then chốt như chăm sóc trẻ em, người già, giáo dục và y tế. Các mục tiêu mới trong kế hoạch lần thứ 15 là minh chứng cho điều này. Ngoài ra, để ứng phó với tình trạng sụt giảm và già hóa dân số, chính phủ đang nỗ lực thúc đẩy tỷ lệ sinh thông qua trợ cấp sinh con, ưu đãi thuế, tăng ngày nghỉ phép, cải thiện dịch vụ chăm sóc trẻ và hỗ trợ về nhà ở, giáo dục. Tuy nhiên, hiệu quả thực tế của các chính sách này trong việc làm chậm đà giảm tỷ lệ sinh vẫn cần thời gian để kiểm chứng.

Cải cách chậm rãi, khơi thông tiềm năng dài hạn

Các nhà hoạch định chính sách đã vạch ra chương trình nghị sự cho các cải cách cơ cấu trong Kế hoạch lần thứ 15 này, tập trung vào các lĩnh vực tài khóa, tài chính, mạng lưới an sinh xã hội và thị trường. Các biện pháp này bao gồm:

  • Tăng tỷ trọng chi tiêu tài khóa cho các dịch vụ công một cách hợp lý
  • Loại bỏ các hạn chế không hợp lý với tiêu dùng
  • Dần nâng cao tiêu chuẩn lương hưu cho cư dân thành thị và nông thôn
  • Cải thiện các chính sách nhằm thúc đẩy tỷ lệ sinh
  • Cải thiện chính sách thị thực và lưu trú ngắn hạn để tạo điều kiện thuận lợi cho khách du lịch quốc tế
  • Thúc đẩy cung cấp "nhà ở chất lượng"
  • Cải thiện cơ chế hỗ trợ dòng vốn dài hạn gia nhập thị trường vốn
Các biện pháp cải cách này có thể giúp khai thông tiềm năng tăng trưởng trong dài hạn, nhưng sẽ cần thời gian triển khai và đòi hỏi nỗ lực trong thời gian dài. Ngoài ra, các nhà hoạch định chính sách đã cam kết đẩy mạnh cải cách thuế tiêu dùng trong Kế hoạch lần thứ 14 bao gồm: chuyển điểm thu thuế từ giai đoạn sản xuất/nhập khẩu sang giai đoạn bán buôn/bán lẻ, và phân bổ một phần doanh thu cho chính quyền địa phương. Dù đã kêu gọi đẩy nhanh tốc độ nhưng thực tế vẫn chậm, các nhà hoạch định chính sách có thể tiếp tục triển khai cải cách thuế tiêu dùng trong Kế hoạch lần này. Từ đó cung cấp cho chính quyền địa phương một nguồn doanh thu quan trọng trong kỷ nguyên "hậu bất động sản", tạo động lực lớn hơn để phát triển tiêu dùng địa phương theo định hướng dài hạn.


Nguồn: GS

Không có nhận xét nào:

Kì vọng gì ở FED?

Các rủi ro ngắn hạn đang làm giảm khả năng nới lỏng chính sách nhưng quỹ đạo chính sách trong trung hạn của FED sẽ vẫn như cũ, hướng tới việ...